Một trong những mục tiêu chính của BlackBerry là thu hút các nhà phát triển viết ứng dụng cho hệ điều hành mới BlackBerry 10. Nhưng, không phải tất cả các nhà ứng dụng đều sẵn sàng, vì thế BlackBerry đã đưa ra một số công cụ để các chương trình trên nền tảng khác chạy được trên các thiết bị như Z10 của hãng.
Ngày 30/1 vừa qua, RIM (nay đã đổi tên thành Blackberry) đã ra mắt 2 smartphone cực mới chạy hệ điều hành Blackberry OS 10, hãng điện thoại Canada này đã đánh cược vận toàn bộ vận mệnh của mình vào Z10 và Q10. Thế nhưng nhược điểm lớn nhất của BB 10 chính là hệ sinh thái còn yếu kém của HĐH này mặc dù đã có hơn 70 000 ứng dụng tại thời điểm ra mắt ! Bài viết sẽ hướng dẫn các bạn cài ép ứng dụng ưa thích của bạn trên Android lên Blackberry 10 nếu như ứng dụng đấy chưa được phát hành trên Blackberry World !
Lưu ý : Vì là dạng ứng dụng cài ép nên có thể độ tương thích không cao (thậm chí là có khả năng k thể hoạt động đúng) nên các bạn cân nhắc trước khi thực hiện ! Đây là chỉ giải pháp tình thế tạm thời !
Điều này được thực hiện thông qua một quá trình đóng gói lại tương tự như những gì BlackBerry đã được cung cấp bởi các nhà phát triển ứng dụng trong thời gian qua. Những ai đã cố gắng làm điều này trên BlackBerry PlayBook đã khá quen thuộc với các công cụ và các bước thực hiện.
Ở bài viết này, SSTN sẽ hướng dẫn các bạn thực hiện quy trình chuyển đổi bằng phần mềm trên nền HĐH Windows.
Các bạn có thể theo dõi sơ qua Video bên dưới:
Ở bài viết này, SSTN sẽ hướng dẫn các bạn thực hiện quy trình chuyển đổi bằng phần mềm trên nền HĐH Windows.
Các bạn có thể theo dõi sơ qua Video bên dưới:
Bắt đầu
Đầu tiên bạn cần phải có cài đặt phiên bản mới nhất của BlackBerry 10. Bạn sẽ cần phải tải về một số phần mềm hỗ trợ vào máy tính của bạn trước khi có thể nạp các ứng dụng Android:
Tải về và cài đặt Java Runtime Environment phù hợp cho máy tính của bạn. - Liên kết
Tải về và cài đặt cài đặt - Link DDPB
Tải về tệp tin. BAR / .ZIP đã được Convert - Liên kết
Trên máy Blackberry 10 của bạn cần thao tác như sau:
Tải về và cài đặt Java Runtime Environment phù hợp cho máy tính của bạn. - Liên kết
Tải về và cài đặt cài đặt - Link DDPB
Tải về tệp tin. BAR / .ZIP đã được Convert - Liên kết
Trên máy Blackberry 10 của bạn cần thao tác như sau:
Trước tiên, bạn cần phải thiết lập điện thoại BlackBerry 10 vào chế độ tương tác nhà phát triển hay còn gọi là Developer Mode. Để được quyền truy cập vào các thiết lập này, bạn có thể vào Settings > Security and Privacy > Development Mode.
Một khi Development Mode đã được bật và bạn nhập vào các thiết lập cho nó - bạn cần phải kích hoạt nó. Chỉ cần nhấp vào nút on / off, có thể xuất hiện màn hình cầu bạn nhập mật khẩu của bạn hoặc nếu bạn chưa tạo mật khẩu nào thì máy sẽ yêu cầu bạn tạo luôn 1 cái vậy nên hãy nhớ lấy mật khẩu này, cực kì quan trọng với bạn đấy. Sau khi thực hiện xong thì tiếp tục các bước sau :
Cài đặt Android Apps
Nếu không có gì sai sót, bây giờ bạn hãy kết nối Z10 hoặc Q10 của bạn vào máy tính. Khi kết nối với nó, nếu bạn có cài đặt BlackBerry Link, phần mềm này có thể bật lên và bắt đầu chạy (bạn có thể tắt nó đi).
Tiếp đến, bạn mở DDPB mà bạn tải về và cài đặt trước đó. Sau đó nhập BlackBerry's IP address của bạn vào "IP Development Mode" (hoặc click Scan). Phần mềm sẽ đòi hỏi mật khẩu mà bạn đã tạo ra trên điện thoại để yêu cầu kết nối.
Từ bây giờ bạn có thể bắt đầu cài đặt các ứng dụng đã được convert mà bạn tải về. Nhấp vào nút "Add" để xuất hiện cửa sổ Browse của DDPB. Bây giờ chỉ đơn giản là duyệt đến nơi bạn lưu trữ các file BAR mà bạn tải về. Và thêm chúng vào danh sách. Sau khi đã Add xong xuôi, bạn hãy tích vào trước những ứng dụng mà bạn muốn cài đặt. Sau khi tick vào xong xuôi thì nhấn vào nút Install và chờ đợi điều kì diệu xảy ra nhé.
Nếu xuất hiện thông báo như trên tức là OK! Bây giờ chỉ việc kiểm tra ứng dụng vừa cài vào trên thiết bị chạy Blackberry 10 của bạn. Nếu như không thấy chúng xuất hiện, hãy kiểm tra kết nối USB của bạn, mật khẩu, và địa chỉ IP. Và thực hiện lại nhé !
Chúc các bạn thành công.
Bài viết được sơ dịch từ Cr@ckberry
Nguồn KNM
Không hẹn mà gặp, cả 3 gã khổng lồ về dịch vụ phần mềm là Microsoft, Google và Amazon đều đang tập trung đầu tư vào thị trường phần cứng - máy tính bảng. Mỗi hãng đều có những toan tính riêng khi tham gia thị trường này.
Microsoft hiểu rõ điều đó - như hiểu rõ Windows Phone vẫn chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn trong miếng bánh nền tảng ứng dụng so với iOS và Android. Bằng việc ra mắt Surface, Microsoft chấp nhận chơi một canh bạc lớn để giới thiệu Windows 8 như một nền tảng đa thiết bị và hoàn toàn thích ứng với thiết bị di động hơn là hình ảnh cũ kỹ của một hệ điều hành máy tính. Công thức “Windows 8 + Surface” có lẽ là cơ hội tốt nhất để Microsoft đe dọa Apple, hãng đã làm tốt cả phần cứng và phần mềm.
Chiến lược là như vậy, nhưng theo số liệu của Zdnet.com - doanh số bán của Surface trong năm 2012 là khá thất vọng. Trang thông tin này ước tính chỉ có tầm 3-5 triệu máy bán ra trong suốt năm. Rõ ràng so với mức 3 triệu iPad4 bán được trong tuần đầu tiên ra mắt thì Microsoft vẫn là một gã khổng lồ chậm chạp so với Apple.
Điều an ủi duy nhất đối với Microsoft là Surface phần nào thật sự thúc đẩy xu hướng di động hóa của Windows 8. Các nhà phân tích cũng cho rằng với nỗ lực đầu tư nghiêm túc, Microsoft có thể giành được vị trí thứ ba trong thị trường nền tảng di động sau Android và IOS vào năm 2016 với 39% nếu chuyển tiếp nhịp nhàng lượng khách hàng từ máy tính bàn sang thiết bị di động.
Khi người tiêu dùng vẫn còn hình dung máy tính bảng đồng nghĩa với iPad và Samsung Galaxy Tab thì Amazon làm sửng sốt giới công nghệ bằng loạt máy tính bảng giá rẻ Kindle Fire. Thiết bị này được mô tả là rẻ hơn giá sản xuất, với chiến lược rõ ràng là sẽ kiếm tiền từ doanh thu thương mại điện tử. Chính bước đi táo bạo này của Amazon đã làm giảm thị phần của Apple từ 90% xuống còn 60% vào cuối năm 2012.
Thực ra Amazon không chủ định cạnh tranh với Apple. Họ chỉ muốn phổ cập máy tính bảng như một công cụ mua hàng mới. Hãng nghiên cứu thị trường Forrester dự đoán doanh thu từ thiết bị di động sẽ giữ mức tăng trưởng ổn định 39% mỗi năm để đạt tổng giá trị 39 tỉ USD vào năm 2016.
Mọi việc đã khó khăn hơn trong năm 2012 khi Apple ra mắt iPad mini - sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với Kindle Fire. Động thái này làm cho doanh số của Kindle Fire giảm 15-25% vào mỗi quý, nhất là quý IV/2012. Và giới chuyên môn chờ đợi một động thái mạnh mẽ từ Amazon sẽ diễn ra trong năm 2013.
Sự tăng trưởng của Android trong năm 2012 là điều đáng mừng với Google, đơn vị sở hữu nền tảng này. Nhưng một câu hỏi lại được ra: Chính xác thì khi nào Google mới có thể xem Android như một nguồn doanh thu đáng kể và con số sẽ là bao nhiêu. Câu hỏi này chắc chắn sẽ làm các nhân sự cấp cao của Google đau đầu khi con bài chiến lược Google Play (một nền tảng tương tự như Appstore) không có mặt trên hầu hết những thiết bị tablet đình đám năm 2012 vì các máy tính bảng này chưa sử dụng phiên bản mới của Android.
Google phần nào đang phải trả giá vì sự thỏa hiệp của mình với quá nhiều nhà sản xuất thiết bị, dẫn đến các phiên bản của Android rất rời rạc. Điều này ngược lại hoàn toàn với Apple, đơn vị cực kỳ hiểu nền tảng phần cứng và phần mềm của mình. Trong khi chờ thuyết phục các đối tác sử dụng các phiên bản mới hơn của Android (nơi Google có thể kiếm nhiều tiền hơn) cũng như trung thành với nền tảng này thì Google đã có những bước đi riêng của mình: đẩy mạnh sản xuất tablet riêng cũng như mua lại Motorola, một nhà sản xuất phần cứng.
Có thể nói động thái đầu tư vào máy tính bảng của cả 3 công ty dịch vụ phần mềm trên đều tập trung chủ yếu vào việc đa dạng hóa hệ sinh thái của mình, cũng như tối đa hóa doanh thu từ nền tảng người dùng. Nhưng để cạnh tranh trong cuộc chơi với 2 đối thủ đã chắc chắn chỗ đứng là Apple và Samsung thì sẽ còn nhiều điều để làm. Trong 3 công ty trên thì Google có vẻ khá phân tâm với dự án Google Glass hơn là ưu tiên mảng tablet, trong khi Amazon vẫn còn nhiều cách phát triển hơn là phải sống chết trong thị trường tablet.
Theo Nhịp cầu đầu tư
Microsoft tạo cặp đôi hoàn hảo
Một trong những lý do chính để Microsoft đầu tư vào máy tính bảng Surface là để hỗ trợ sự ra mắt của Windows 8. Rất nhiều người đã nghĩ rằng Windows 8 sẽ là một thất bại nữa, giống như Windows Vista không thể lấn át người tiền nhiệm Windows XP. Lý do họ đưa ra là: tại sao tôi phải cần một hệ điều hành trên máy tính và laptop mới, khi các thiết bị cầm tay đang làm quá tốt rất nhiều chức năng mà laptop phải kiêm nhiệm ngày trước.Microsoft hiểu rõ điều đó - như hiểu rõ Windows Phone vẫn chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn trong miếng bánh nền tảng ứng dụng so với iOS và Android. Bằng việc ra mắt Surface, Microsoft chấp nhận chơi một canh bạc lớn để giới thiệu Windows 8 như một nền tảng đa thiết bị và hoàn toàn thích ứng với thiết bị di động hơn là hình ảnh cũ kỹ của một hệ điều hành máy tính. Công thức “Windows 8 + Surface” có lẽ là cơ hội tốt nhất để Microsoft đe dọa Apple, hãng đã làm tốt cả phần cứng và phần mềm.
Chiến lược là như vậy, nhưng theo số liệu của Zdnet.com - doanh số bán của Surface trong năm 2012 là khá thất vọng. Trang thông tin này ước tính chỉ có tầm 3-5 triệu máy bán ra trong suốt năm. Rõ ràng so với mức 3 triệu iPad4 bán được trong tuần đầu tiên ra mắt thì Microsoft vẫn là một gã khổng lồ chậm chạp so với Apple.
Điều an ủi duy nhất đối với Microsoft là Surface phần nào thật sự thúc đẩy xu hướng di động hóa của Windows 8. Các nhà phân tích cũng cho rằng với nỗ lực đầu tư nghiêm túc, Microsoft có thể giành được vị trí thứ ba trong thị trường nền tảng di động sau Android và IOS vào năm 2016 với 39% nếu chuyển tiếp nhịp nhàng lượng khách hàng từ máy tính bàn sang thiết bị di động.
Amazon ứng dụng
Khi người tiêu dùng vẫn còn hình dung máy tính bảng đồng nghĩa với iPad và Samsung Galaxy Tab thì Amazon làm sửng sốt giới công nghệ bằng loạt máy tính bảng giá rẻ Kindle Fire. Thiết bị này được mô tả là rẻ hơn giá sản xuất, với chiến lược rõ ràng là sẽ kiếm tiền từ doanh thu thương mại điện tử. Chính bước đi táo bạo này của Amazon đã làm giảm thị phần của Apple từ 90% xuống còn 60% vào cuối năm 2012.
Thực ra Amazon không chủ định cạnh tranh với Apple. Họ chỉ muốn phổ cập máy tính bảng như một công cụ mua hàng mới. Hãng nghiên cứu thị trường Forrester dự đoán doanh thu từ thiết bị di động sẽ giữ mức tăng trưởng ổn định 39% mỗi năm để đạt tổng giá trị 39 tỉ USD vào năm 2016.
Mọi việc đã khó khăn hơn trong năm 2012 khi Apple ra mắt iPad mini - sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với Kindle Fire. Động thái này làm cho doanh số của Kindle Fire giảm 15-25% vào mỗi quý, nhất là quý IV/2012. Và giới chuyên môn chờ đợi một động thái mạnh mẽ từ Amazon sẽ diễn ra trong năm 2013.
Google - đã đến lúc kiếm tiền từ Android?
Sự tăng trưởng của Android trong năm 2012 là điều đáng mừng với Google, đơn vị sở hữu nền tảng này. Nhưng một câu hỏi lại được ra: Chính xác thì khi nào Google mới có thể xem Android như một nguồn doanh thu đáng kể và con số sẽ là bao nhiêu. Câu hỏi này chắc chắn sẽ làm các nhân sự cấp cao của Google đau đầu khi con bài chiến lược Google Play (một nền tảng tương tự như Appstore) không có mặt trên hầu hết những thiết bị tablet đình đám năm 2012 vì các máy tính bảng này chưa sử dụng phiên bản mới của Android.
Google phần nào đang phải trả giá vì sự thỏa hiệp của mình với quá nhiều nhà sản xuất thiết bị, dẫn đến các phiên bản của Android rất rời rạc. Điều này ngược lại hoàn toàn với Apple, đơn vị cực kỳ hiểu nền tảng phần cứng và phần mềm của mình. Trong khi chờ thuyết phục các đối tác sử dụng các phiên bản mới hơn của Android (nơi Google có thể kiếm nhiều tiền hơn) cũng như trung thành với nền tảng này thì Google đã có những bước đi riêng của mình: đẩy mạnh sản xuất tablet riêng cũng như mua lại Motorola, một nhà sản xuất phần cứng.
Có thể nói động thái đầu tư vào máy tính bảng của cả 3 công ty dịch vụ phần mềm trên đều tập trung chủ yếu vào việc đa dạng hóa hệ sinh thái của mình, cũng như tối đa hóa doanh thu từ nền tảng người dùng. Nhưng để cạnh tranh trong cuộc chơi với 2 đối thủ đã chắc chắn chỗ đứng là Apple và Samsung thì sẽ còn nhiều điều để làm. Trong 3 công ty trên thì Google có vẻ khá phân tâm với dự án Google Glass hơn là ưu tiên mảng tablet, trong khi Amazon vẫn còn nhiều cách phát triển hơn là phải sống chết trong thị trường tablet.
Theo Nhịp cầu đầu tư
Nếu Galaxy S4 mạnh mẽ về cấu hình, tích hợp giao diện Android với hàng loạt tùy biến thì Xperia Z lại ghi điểm ở thiết kế sang trọng và các tính năng giải trí đỉnh cao.
Khi chiếc Xperia Z chính thức được ra mắt thị trường, hàng loạt các website công nghệ đã cho đăng tải những bài báo với nội dung đại loại như “Sony đã trở lại”. Sony Xperia Z là một thiết bị hấp dẫn với cấu hình ấn tượng, nhưng nó đứng ở vị trí nào khi so sánh với tượng đài của dòng điện thoại Android là họ sản phẩm Galaxy S của Samsung, mà điển hình là Galaxy S4?
Ngay cả những fan trung thành nhất của Samsung đều phải thừa nhận, thiết kế vỏ nhựa khiến Galaxy S4 trở nên kém hấp dẫn hơn nhiều so với những model cao cấp khác, trong đó có Xperia Z. Cả 2 model này có cùng kích thước, cân nặng (cách biệt không đáng kể) nhưng thiết kế của chúng gần như khác biệt hoàn toàn.
Galaxy S4 có các cạnh bo tròn, dùng nút Home vật lý, 2 phím cảm ứng và nắp sau bằng nhựa polycarbonate. Ngược lại, Xperia Z có thiết kế dạng khối hộp, không có phím điều hướng vật lý và dùng vỏ sau bằng kính. Ngoài ra, Xperia Z cũng ăn đứt đối thủ ở khả năng chống bụi và ngâm nước ở độ sâu 1m trong khoảng 30 phút.
Với màn hình AMOLED, Galaxy S4 chắc chắn sẽ cho màu sắc rực rỡ hơn và với một thực tế là khả năng hiển thị của Xperia Z không phải là xuất sắc, nhiều người sẽ chọn S4 nếu đem so sánh 2 màn hình với nhau. Tuy nhiên, Xperia Z lại có một lợi thế cực lớn, đó chính là công nghệ Bravia Engine 2 – là tinh hoa của mấy chục năm sản xuất TV từ Sony. Công nghệ này giúp tự động điều chỉnh độ tương phản của hình ảnh và video hiển thị, giúp người dùng xem các nội dung “sướng mắt” hơn.
Samsung và Sony sử dụng camera có độ phân giải khá tương đồng ở cả mặt trước và mặt sau. Nếu như S4 dùng camera 13 megapixel thì với chiếc Xperia Z, chúng ta có camera 13,1 megapixel. Với việc, số megapixel không quyết định nhiều đến chất lượng ảnh chụp, cộng thêm việc bản thương mại của S4 chưa được tung ra thị trường, còn quá sớm để kết luận ai hơn ai trong trường hợp này. Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý là theo truyền thống, các sản phẩm của Sony luôn có chất lượng camera tốt hơn so với các hãng khác.
Cấu hình là một điểm mạnh của Galaxy S4. Sản phẩm này dùng chip Exynos Octa SoC (bản quốc tế) với 4 nhận tốc độ cao A16 và 4 nhân tiết kiệm năng lượng A7. Ngoài ra, nó cũng được tích hợp đồ họa PowerVR 3 nhân. Trong khi đó, bản cho thị trường Mỹ của S4 dùng chip Snapdragon 600.
Dù là phiên bản chip xử lý nào, S4 vẫn tỏ ra vượt trội so với đối thủ từ Sony bởi Xperia Z chỉ được tích hợp chip Snapdragon S4 Pro. Đây là dòng chip đỉnh cao tính đến thời điểm cuối năm 2012 nhưng sang đến 2013, nó không còn giữ vị thế thống trị.
Kết
Nếu bạn đặc biệt quan tâm đến cấu hình mà không quan tâm nhiều đến thiết kế của sản phẩm, S4 chính là lựa chọn hàng đầu. Trong khi đó, với những người yêu thiết kế thanh lịch, sang trọng và muốn “chơi trội” bằng cách nhúng sản phẩm của mình xuống nước để thu hút sự chú ý, Xperia Z sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Theo Infonet
Khi chiếc Xperia Z chính thức được ra mắt thị trường, hàng loạt các website công nghệ đã cho đăng tải những bài báo với nội dung đại loại như “Sony đã trở lại”. Sony Xperia Z là một thiết bị hấp dẫn với cấu hình ấn tượng, nhưng nó đứng ở vị trí nào khi so sánh với tượng đài của dòng điện thoại Android là họ sản phẩm Galaxy S của Samsung, mà điển hình là Galaxy S4?
Thiết kế và chất lượng phần cứng
Ngay cả những fan trung thành nhất của Samsung đều phải thừa nhận, thiết kế vỏ nhựa khiến Galaxy S4 trở nên kém hấp dẫn hơn nhiều so với những model cao cấp khác, trong đó có Xperia Z. Cả 2 model này có cùng kích thước, cân nặng (cách biệt không đáng kể) nhưng thiết kế của chúng gần như khác biệt hoàn toàn.
Galaxy S4 có các cạnh bo tròn, dùng nút Home vật lý, 2 phím cảm ứng và nắp sau bằng nhựa polycarbonate. Ngược lại, Xperia Z có thiết kế dạng khối hộp, không có phím điều hướng vật lý và dùng vỏ sau bằng kính. Ngoài ra, Xperia Z cũng ăn đứt đối thủ ở khả năng chống bụi và ngâm nước ở độ sâu 1m trong khoảng 30 phút.
Màn hình
Galaxy S4 và Xperia Z đều có màn hình 1.920 x 1.080 pixel với mật độ điểm ảnh 441 ppi. Điểm khác biệt lớn nhất chính là việc S4 dùng màn hình AMOLED trong khi Xperia Z sử dụng công nghệ LCD. Trên thực tế, màn hình Full HD trên một thiết bị chỉ 5 inch có thể coi là một sự phí phạm bởi nó nét quá mức cảm nhận của mắt thường.Với màn hình AMOLED, Galaxy S4 chắc chắn sẽ cho màu sắc rực rỡ hơn và với một thực tế là khả năng hiển thị của Xperia Z không phải là xuất sắc, nhiều người sẽ chọn S4 nếu đem so sánh 2 màn hình với nhau. Tuy nhiên, Xperia Z lại có một lợi thế cực lớn, đó chính là công nghệ Bravia Engine 2 – là tinh hoa của mấy chục năm sản xuất TV từ Sony. Công nghệ này giúp tự động điều chỉnh độ tương phản của hình ảnh và video hiển thị, giúp người dùng xem các nội dung “sướng mắt” hơn.
Camera
Samsung và Sony sử dụng camera có độ phân giải khá tương đồng ở cả mặt trước và mặt sau. Nếu như S4 dùng camera 13 megapixel thì với chiếc Xperia Z, chúng ta có camera 13,1 megapixel. Với việc, số megapixel không quyết định nhiều đến chất lượng ảnh chụp, cộng thêm việc bản thương mại của S4 chưa được tung ra thị trường, còn quá sớm để kết luận ai hơn ai trong trường hợp này. Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý là theo truyền thống, các sản phẩm của Sony luôn có chất lượng camera tốt hơn so với các hãng khác.
Cấu hình
Cấu hình là một điểm mạnh của Galaxy S4. Sản phẩm này dùng chip Exynos Octa SoC (bản quốc tế) với 4 nhận tốc độ cao A16 và 4 nhân tiết kiệm năng lượng A7. Ngoài ra, nó cũng được tích hợp đồ họa PowerVR 3 nhân. Trong khi đó, bản cho thị trường Mỹ của S4 dùng chip Snapdragon 600.
Dù là phiên bản chip xử lý nào, S4 vẫn tỏ ra vượt trội so với đối thủ từ Sony bởi Xperia Z chỉ được tích hợp chip Snapdragon S4 Pro. Đây là dòng chip đỉnh cao tính đến thời điểm cuối năm 2012 nhưng sang đến 2013, nó không còn giữ vị thế thống trị.
Pin
Xperia Z dùng pin 2.330 mAh, pin của S4 có dung lượng lớn hơn đôi chút, ở mức 2.600 mAh. Tuy nhiên, xét về mặt tổng thể, thời lượng sử dụng của bộ đôi này là tương đương. S4 có một điểm lợi thế hơn: pin có thể tháo rời, đồng nghĩa với việc người dùng có thể dùng 2 cục pin để kéo dài thời lượng sử dụng khi cần thiết.Android
Thêm một điểm nữa rất khác biệt giữa 2 sản phẩm này bởi trong khi Sony chỉ tùy biến không đáng kể giao diện gốc của Android thì Galaxy S4 có khá nhiều phần mềm ngoài tích hợp, giao diện cũng thay đổi đáng kể. Giao diện TouchWiz không được lòng nhiều người nhưng với việc S4 dùng Android 4.2, lại có những tính năng khá thông minh như AirView hay Snart Scroll, người dùng sẽ có nhiều cơ hội trải nghiệm hơn.Kết
Nếu bạn đặc biệt quan tâm đến cấu hình mà không quan tâm nhiều đến thiết kế của sản phẩm, S4 chính là lựa chọn hàng đầu. Trong khi đó, với những người yêu thiết kế thanh lịch, sang trọng và muốn “chơi trội” bằng cách nhúng sản phẩm của mình xuống nước để thu hút sự chú ý, Xperia Z sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Theo Infonet
Trong khi Sandberg dành
nhiều tâm huyết thay đổi thế giới thì Mayer lại tập trung phát triển
Yahoo!. Cô nói: “Thứ tự ưu tiên của tôi là Chúa, gia đình và Yahoo!”.
Marissa Mayer, CEO của Yahoo!, xuất hiện trên bìa tạp chí Fortune với một vẻ ngoài hoàn hảo. cô được đưa vào danh sách 50 phụ nữ quyền lực nhất hành tinh năm 2012. Trong khi đó Sheryl Sandberg, người phụ nữ quyền lực thứ hai ở đế chế mới Facebook, chỉ sau nhà sáng lập Mark Zuckerberg, xuất hiện trên bìa tờ Time, với dòng tựa đề khiêu khích: “Xin đừng ghét, chỉ vì cô ấy thành đạt”. Giữ lần lượt hai vị trí 14 và 8 trong bảng xếp hạng những phụ nữ quyền lực nhất hành tinh, thật khó để không đặt họ lên bàn cân và làm một phép so sánh nhỏ.
Chưa bao giờ, trong lịch sử tiếp thị nhân vật, người ta lại thấy mật độ xuất hiện của phụ nữ trước công chúng dày đặc đến thế. Sandberg có mặt khắp mọi kênh giao tiếp công chúng. Cô xuất hiện trong tiệc ra mắt bộ phim tài liệu tôn vinh thị trưởng thành phố New York Michael Bloomberg cùng với cựu bộ trưởng tài chính Mỹ Tim Geithner. Hôm sau, cô ăn tối cùng với Jamie Dimon, Giám đốc Điều hành ngân hàng JP Morgan Chase. Sandberg cũng mới phát hành cuốn sách, tựa đề: “Lean in: Woman, Work and the Will to Lead”, tạm dịch: Đào sâu: Phụ nữ, Công việc, Thiên hướng Dẫn đầu. Buổi giới thiệu cuốn sách này cũng được kênh CBS (Mỹ) ghi hình đến 60 phút.
Marissa Mayer cũng không hề kém cạnh đàn chị khi tự ném mình vào cuộc chiến truyền thông bằng một tuyên bố “nhân viên Yahoo! không được làm việc tại nhà”. Cả Mayer lẫn Sandberg đều nổi tiếng, xinh đẹp và tài năng, nhưng họ lại có cách thể hiện khác nhau về hình ảnh một phụ nữ thành đạt. Trong khi Sandberg cổ vũ cho hình mẫu phụ nữ mới, quyền lực nhưng cân bằng, thì Mayer, ngược lại, khẳng định hình ảnh mình là đầy sắt đá và tham vọng.
Tương đồng và khác biệt
Trước khi trở thành những phụ nữ nổi danh như ngày hôm nay, Mayer và Sandberg đều có một khoảng thời gian đáng nhớ và thành công tại Google. Họ xuất thân trong những gia đình trung lưu hiếu học và có điều kiện thuận lợi. Họ cũng có cùng tư tưởng là đưa ra những xu hướng mới có thể chi phối mạnh mẽ đến việc quản trị, tuy nhiên theo 2 hướng trái ngược nhau. Trong khi Sandberg áp dụng chính sách tan sở lúc 5:30 chiều và dành thời gian sum họp bên gia đình, Mayer lại bắt buộc các nhân viên Yahoo! đang tận hưởng không khí làm việc tại nhà bao lâu nay phải có mặt ở nhiệm sở hằng ngày.
Cả 2 đều là người ôm ấp những mơ ước lớn. Nhưng trong khi Sandberg mạnh dạn từ bỏ Google và bước chân vào “đế chế mới” Facebook thì Mayer kiên trì ở lại, hy vọng tìm được một ghế trong ban quản trị. Mayer cho rằng thăng tiến sẽ đến một cách tự nhiên. Tuy nhiên, cuối cùng cô cũng rời bỏ Google để đến với vị trí đầy thử thách tại Yahoo!.
Chung đáp số: Thành công
Sandberg vốn là con gái út trong một gia đình có truyền thống theo nghề y. Cô là con gái của một bác sĩ, tiến sĩ nhãn khoa và là em gái của hai bác sĩ khác. Trong gia đình mọi người đều làm ngành y, Sheryl quả là một trường hợp đặc biệt: Cô học Trường Kinh doanh Harvard, khởi nghiệp tại Ngân hàng Thế giới, dưới quyền của Larry Summers và sau này tiến thẳng vào Bộ Tài chính Mỹ. Sandberg sau đó từ chính trường chuyển hướng sang kinh doanh, cũng thành công rực rỡ như tất cả những công việc khác cô đã làm.
Trong thời gian làm việc tại Google, Sandberg tham gia quản lý doanh số bán hàng toàn cầu và phát triển kinh doanh nhằm biến Google thành một cỗ máy in tiền.
Mayer, ngược lại, xuất thân là một thạc sĩ khoa học máy tính của Đại học Stanford và là thế hệ kỹ sư công nghệ nữ đầu tiên của Google. Cô đã làm việc cho hãng công nghệ này ngay sau khi tốt nghiệp. Cha cô cũng là kỹ sư. Cô tham gia các dự án phát triển sản phẩm. Mayer không ngại làm việc mỗi tuần tới cả trăm giờ và có một niềm say mê đặc biệt với công việc.
Trong khi Sandberg xây dựng một hình ảnh mềm mỏng, tôn vinh nữ quyền, thì mặc dù nhỏ hơn 7 tuổi, Mayer lại tự xếp mình vào một thế hệ khác và không xem mình là một đại diện của nữ quyền. Cô cho rằng, “nữ quyền” là một từ rất tiêu cực. Trong khi Sandberg dành nhiều thời gian và tâm huyết thay đổi thế giới, thì ngược lại, Mayer dành phần lớn thời gian vào việc tập trung phát triển Yahoo!. Cô nói: “Thứ tự ưu tiên của tôi là Chúa, gia đình và Yahoo!”.
Mayer đã bị rất nhiều áp lực khi yêu cầu nhân viên Yahoo! phải có mặt tại văn phòng thay vì làm việc tại nhà. Cô đã tạo ra một tiền lệ được xem là đẩy cao sự ức chế nhân viên, đi ngược xu thế chung. Thế nhưng, gần đây sức ép này đã giảm bớt, khi có một công ty như Best Buy cho biết sẽ đi theo con đường của Yahoo! và cho rằng đây là một quyết sách đúng.
Khi chiêu mộ Mayer, ban điều hành Yahoo! đã đưa ra yêu cầu duy nhất: “Làm tất cả những gì có thể để đảo ngược tình hình ở Yahoo!”. Và nỗ lực của cô đã được đền đáp xứng đáng khi giá cổ phiếu kể từ đó đã tăng tới 45%.
Hai người phụ nữ, hai cách nhìn, hai cách tiếp cận. Tuy nhiên, họ đều rất thành công và đang ngày càng khẳng định rõ hơn vị trí của mình, không chỉ tại nơi mà họ làm việc, mà còn với công chúng.
Theo Genk
Marissa Mayer, CEO của Yahoo!, xuất hiện trên bìa tạp chí Fortune với một vẻ ngoài hoàn hảo. cô được đưa vào danh sách 50 phụ nữ quyền lực nhất hành tinh năm 2012. Trong khi đó Sheryl Sandberg, người phụ nữ quyền lực thứ hai ở đế chế mới Facebook, chỉ sau nhà sáng lập Mark Zuckerberg, xuất hiện trên bìa tờ Time, với dòng tựa đề khiêu khích: “Xin đừng ghét, chỉ vì cô ấy thành đạt”. Giữ lần lượt hai vị trí 14 và 8 trong bảng xếp hạng những phụ nữ quyền lực nhất hành tinh, thật khó để không đặt họ lên bàn cân và làm một phép so sánh nhỏ.
Chưa bao giờ, trong lịch sử tiếp thị nhân vật, người ta lại thấy mật độ xuất hiện của phụ nữ trước công chúng dày đặc đến thế. Sandberg có mặt khắp mọi kênh giao tiếp công chúng. Cô xuất hiện trong tiệc ra mắt bộ phim tài liệu tôn vinh thị trưởng thành phố New York Michael Bloomberg cùng với cựu bộ trưởng tài chính Mỹ Tim Geithner. Hôm sau, cô ăn tối cùng với Jamie Dimon, Giám đốc Điều hành ngân hàng JP Morgan Chase. Sandberg cũng mới phát hành cuốn sách, tựa đề: “Lean in: Woman, Work and the Will to Lead”, tạm dịch: Đào sâu: Phụ nữ, Công việc, Thiên hướng Dẫn đầu. Buổi giới thiệu cuốn sách này cũng được kênh CBS (Mỹ) ghi hình đến 60 phút.
Marissa Mayer cũng không hề kém cạnh đàn chị khi tự ném mình vào cuộc chiến truyền thông bằng một tuyên bố “nhân viên Yahoo! không được làm việc tại nhà”. Cả Mayer lẫn Sandberg đều nổi tiếng, xinh đẹp và tài năng, nhưng họ lại có cách thể hiện khác nhau về hình ảnh một phụ nữ thành đạt. Trong khi Sandberg cổ vũ cho hình mẫu phụ nữ mới, quyền lực nhưng cân bằng, thì Mayer, ngược lại, khẳng định hình ảnh mình là đầy sắt đá và tham vọng.
Tương đồng và khác biệt
Trước khi trở thành những phụ nữ nổi danh như ngày hôm nay, Mayer và Sandberg đều có một khoảng thời gian đáng nhớ và thành công tại Google. Họ xuất thân trong những gia đình trung lưu hiếu học và có điều kiện thuận lợi. Họ cũng có cùng tư tưởng là đưa ra những xu hướng mới có thể chi phối mạnh mẽ đến việc quản trị, tuy nhiên theo 2 hướng trái ngược nhau. Trong khi Sandberg áp dụng chính sách tan sở lúc 5:30 chiều và dành thời gian sum họp bên gia đình, Mayer lại bắt buộc các nhân viên Yahoo! đang tận hưởng không khí làm việc tại nhà bao lâu nay phải có mặt ở nhiệm sở hằng ngày.
Cả 2 đều là người ôm ấp những mơ ước lớn. Nhưng trong khi Sandberg mạnh dạn từ bỏ Google và bước chân vào “đế chế mới” Facebook thì Mayer kiên trì ở lại, hy vọng tìm được một ghế trong ban quản trị. Mayer cho rằng thăng tiến sẽ đến một cách tự nhiên. Tuy nhiên, cuối cùng cô cũng rời bỏ Google để đến với vị trí đầy thử thách tại Yahoo!.
Chung đáp số: Thành công
Sandberg vốn là con gái út trong một gia đình có truyền thống theo nghề y. Cô là con gái của một bác sĩ, tiến sĩ nhãn khoa và là em gái của hai bác sĩ khác. Trong gia đình mọi người đều làm ngành y, Sheryl quả là một trường hợp đặc biệt: Cô học Trường Kinh doanh Harvard, khởi nghiệp tại Ngân hàng Thế giới, dưới quyền của Larry Summers và sau này tiến thẳng vào Bộ Tài chính Mỹ. Sandberg sau đó từ chính trường chuyển hướng sang kinh doanh, cũng thành công rực rỡ như tất cả những công việc khác cô đã làm.
Trong thời gian làm việc tại Google, Sandberg tham gia quản lý doanh số bán hàng toàn cầu và phát triển kinh doanh nhằm biến Google thành một cỗ máy in tiền.
Mayer, ngược lại, xuất thân là một thạc sĩ khoa học máy tính của Đại học Stanford và là thế hệ kỹ sư công nghệ nữ đầu tiên của Google. Cô đã làm việc cho hãng công nghệ này ngay sau khi tốt nghiệp. Cha cô cũng là kỹ sư. Cô tham gia các dự án phát triển sản phẩm. Mayer không ngại làm việc mỗi tuần tới cả trăm giờ và có một niềm say mê đặc biệt với công việc.
Trong khi Sandberg xây dựng một hình ảnh mềm mỏng, tôn vinh nữ quyền, thì mặc dù nhỏ hơn 7 tuổi, Mayer lại tự xếp mình vào một thế hệ khác và không xem mình là một đại diện của nữ quyền. Cô cho rằng, “nữ quyền” là một từ rất tiêu cực. Trong khi Sandberg dành nhiều thời gian và tâm huyết thay đổi thế giới, thì ngược lại, Mayer dành phần lớn thời gian vào việc tập trung phát triển Yahoo!. Cô nói: “Thứ tự ưu tiên của tôi là Chúa, gia đình và Yahoo!”.
Mayer đã bị rất nhiều áp lực khi yêu cầu nhân viên Yahoo! phải có mặt tại văn phòng thay vì làm việc tại nhà. Cô đã tạo ra một tiền lệ được xem là đẩy cao sự ức chế nhân viên, đi ngược xu thế chung. Thế nhưng, gần đây sức ép này đã giảm bớt, khi có một công ty như Best Buy cho biết sẽ đi theo con đường của Yahoo! và cho rằng đây là một quyết sách đúng.
Khi chiêu mộ Mayer, ban điều hành Yahoo! đã đưa ra yêu cầu duy nhất: “Làm tất cả những gì có thể để đảo ngược tình hình ở Yahoo!”. Và nỗ lực của cô đã được đền đáp xứng đáng khi giá cổ phiếu kể từ đó đã tăng tới 45%.
Hai người phụ nữ, hai cách nhìn, hai cách tiếp cận. Tuy nhiên, họ đều rất thành công và đang ngày càng khẳng định rõ hơn vị trí của mình, không chỉ tại nơi mà họ làm việc, mà còn với công chúng.
Theo Genk
Trong thời gian gần đây, SSTN và một số trang công nghệ khác
đã đưa đến bạn đọc không ít bài so sánh camera. Thế nhưng, cuộc so găng
camera lần này sẽ là cuộc so găng đặc biệt nhất từ trước đến giờ, bởi
trong các "thí sinh" tham gia cuộc đua này, có một máy ảnh kĩ thuật số
thật sự. Đó chính là máy ảnh Samsung Galaxy Camera chạy HĐH Android,
thiết bị này sẽ phải cạnh tranh với những camera trên smartphone được
cho là xuất sắc nhất hiện nay.
Bây giờ, chắc
hẳn bạn đang nghĩ: không thể có chuyện điện thoại lại chụp ảnh tốt hơn
một camera thực sự được. Nếu vậy, xin chớ đưa ra kết luận vội vàng. Bởi
vì, Samsung Galaxy Camera sẽ phải đối mặt với Samsung Galaxy S III,
Galaxy Note II, iPhone 5, và Nokia 808 PureView, tất cả các thiết bị này
đều có khả năng quay phim và chụp ảnh xuất sắc trong những điều kiện đa
dạng.
Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào phân tích, SSTN xin lưu ý
một vài điều với bạn đọc: để cuộc so găng có thể công bằng hơn, chúng
tôi đã cài đặt độ phân giải tối đa 8 MP cho hình ảnh và 1080p cho video
trên tất cả các thiết bị. Tất cả các hình mẫu trong bài viết được chụp ở
chế độ tự động, hoặc với rất ít điều chỉnh. Và bây giờ, cuộc so găng
bắt đầu!
Chi tiết:
Kết
quả của bài test đầu tiên -độ chi tiết hình ảnh- sẽ làm các bạn cảm
thấy bất ngờ. Tuy là một máy ảnh thực sự, Samsung Galaxy Camera lại
không quá xuất sắc ở lĩnh vực chi tiết hình ảnh. Trong thực tế, những
hình ảnh chụp từ máy ảnh Samsung hóa ra lại thiếu chi tiết nhất khi zoom
100%, một điều hoàn toàn trái với mong đợi. Dĩ nhiên, vấn đề này không
đến mức quá nghiêm trọng, nhưng ngay cả Samsung Galaxy Note II hay
Galaxy S III cũng làm tốt hơn ở tiêu chí này. Nhỉnh hơn một chút là
iPhone 5 với các hình ảnh sắc nét đã thành thương hiệu. Và cuối cùng,
người chiến thắng không thể bàn cãi là Nokia 808 PureView. Smartphone
chụp ảnh siêu khủng của Nokia có thể chụp những bức hình cực kì sắc nét
mà hoàn toàn không có hiện tượng nhiễu hạt khó chịu.
1. Samsung Galaxy S III
2. iPhone 5
3. Samsung Galaxy Camera
4. Samsung Galaxy Note II
5. Nokia 808 PureView
Samsung Galaxy Camera.
Samsung Galaxy S III.
Samsung Galaxy Note II.
iPhone 5.
Nokia 808 PureView.
1. Nokia 808 PureView
2. iPhone 5
3. Samsung Galaxy S III and Samsung Galaxy Note II
4. Samsung Galaxy Camera
Màu sắc:
Ở
khả năng tái tạo màu sắc, thiết bị được đánh giá cao nhất là Samsung
Galaxy S III. Màu sắc từ những bức ảnh chụp bằng S III thật sự ấn tượng
nhờ “độ chân thực như cuộc sống”. Hơn thế nữa, phong độ của camera này
lại giữ được tính ổn định rất cao trong nhiều hoàn cảnh. Về thứ nhì là
iPhone 5 nhờ màu sắc hình rực rỡ và bắt mắt. Tuy nhiên, hình ảnh từ
iPhone 5 lại có xu hướng “phóng đại” tông màu sắc, vì thế độ thật cũng
kém đi.
Samsung Galaxy Camera cũng thể hiện khá
tốt ở tiêu chí này, nhưng phong độ của máy ảnh Samsung lại rất thiếu
nhất quán. Nói một cách khác, màu sắc từ Galaxy Camera có thể chính xác
đến tuyệt hảo ở một số điều kiện nhất định, tuy nhiên, khi ta chuyển
sang chụp cảnh khác chúng lại trở nên nhợt nhạt và không tự nhiên.
Galaxy Note II cũng không thoát khỏi tình cảnh này. Khi xem các hình ảnh
chụp từ phablet Samsung, các bạn có thể thấy màu xanh của trời có “vấn
đề”, còn màu đỏ lại hơi quá chói với quy định.
Về
bét bảng ở tiêu chí màu sắc là Nokia 808 Pureview vì màu sắc trên ảnh
chụp từ thiết bị này thường có tông quá lạnh và thiếu sức sống, tuy
nhiên lại rất chính xác ở điều kiện sáng lý tưởng.
Samsung Galaxy Camera.
Samsung Galaxy S III.
Samsung Galaxy Note II
.
iPhone 5.
Nokia 808 PureView.
Chụp nội cảnh:
Đèn
flash xenon đem đến lợi thế không nhỏ cho việc chụp nội cảnh, chính vì
thế Samsung Galaxy Camera đã dễ dàng dành “huy chương vàng” ở tiêu chí
này. Nhưng ngay cả khi không bật flash, các kết quả từ camera này cũng
dễ dàng khiến bạn hài lòng nhờ màu sắc được cân bằng hợp lý và lượng
nhiễu hạt chấp nhận được. Một thiết bị khác với màn thể hiện ấn tượng là
Nokia 808 PureView. Các ảnh nội cảnh của 808 PureView rất giàu chi tiết
nhưng độ bão hòa màu lại không hợp lý và đèn flash xenon trên thiết bị
lại không đủ mạnh để chiếu sáng toàn bộ khung hình.
Tiếp
theo, iPhone 5 cũng có thể chụp những bức ảnh rất đẹp, tuy nhiên lại
xuất hiện quá nhiều “hạt”. Vì vậy smartphone Apple có thể hài lòng ở vị
trí thứ ba. Cùng nhau chia sẻ vị trí cuối bảng là Samsung Galaxy S III
và Galaxy Note II. Cả hai smartphone Samsung đều chỉ có thể đem lại kết
quả tạm chấp nhận nếu ánh sáng trong nhà đủ mạnh vì đèn LED của chúng
quá yếu để cải thiện tình hình khi thiếu sáng.
1. Samsung Galaxy Camera
2. Nokia 808 PureView
3. Apple iPhone 5
4. Samsung Galaxy S III and Samsung Galaxy Note II
Samsung Galaxy Camera.
Samsung Galaxy S III.
Samsung Galaxy Note II.
iPhone 5.
Nokia 808 PureView.
Chụp đêm:
Nếu
được chụp đúng cách, những bức ảnh đêm sẽ cực kỳ ấn tượng với những tia
sáng lung linh huyền ảo. Rất tiếc là hầu hết smartphone hiện nay đều
chụp đêm khá tệ, và những điện thoại trong bài so sánh này cũng không
phải là ngoại lệ với điểm yếu chung là ảnh có nhiều “hạt” còn màu sắc
thì thiếu sức sống. Trái lại, Samsung Galaxy Camera có thể đem lại những
hình ảnh ưng mắt nhất nhờ “bắt” được những tia sáng ở sắc thái mạnh mẽ
và chân thực nhất.
1. Samsung Galaxy Camera
2. Nokia 808 PureView, iPhone 5, Samsung Galaxy S III, Samsung Galaxy Note II
Samsung Galaxy Camera.
Samsung Galaxy S III.
Samsung Galaxy Note II.
iPhone 5.
Nokia 808 PureView.
Macro:
Rất
khó khăn để lựa chọn người thắng cuộc trong tiêu chí này vì tất cả các
bức ảnh macro từ tất cả các thiết bị nói trên đều thực sự ấn tượng. Có
lẽ Samsung Galaxy Camera có một ưu thế nho nhỏ nhờ khả năng lấy nét
chính xác và sát chủ thể nhất. Tuy nhiên, nếu chỉ xét về chất lượng hình
ảnh, tất cả các thiết bị so sánh đều thể hiện xuất sắc như nhau.
Samsung Galaxy Camera.
Samsung Galaxy S III.
Samsung Galaxy Note II.
iPhone 5.
Nokia 808 PureView.
Video:
Tất
cả các đối thủ của bài so găng này đều có thể quay video 1080P chất
lượng cao. Tuy nhiên, những thiết bị có màn thể hiện nhỉnh hơn đôi chút
so với phần còn lại là Nokia 808 PureView, Samsung Galaxy Note II và
Samsung Galaxy S III. Các đoạn phim quay bằng ba smartphone kể trên rất
sắc nét và có thể vận hành mượt mà ở 30 khung hình/ giây, chưa kể đến
Pure 808 còn được hỗ trợ zoom lossless. iPhone 5 cũng có thể quay video
Full HD khá chất lượng, tuy nhiên khi điều kiện sáng không lý tưởng,
hình ảnh xuất hiện “hơi” nhiều hạt. Còn với Samsung Galaxy Camera, máy
ảnh này có thể tạo ra những đoạn video mượt mà và sắc nét, nhưng đôi khi
chúng tôi nhận thấy hiện tượng phơi sáng chập chờn rất kì lạ và chất
lượng âm thanh thì không được xuất sắc. Mặt khác, Galaxy được trang bị
khả năng zoom 21x là một điểm mạnh không nhỏ, đồng thời không thể không
nhắc đến tính năng ghi hình slow-motion 120 khung hình/ giây khá thú vị.
Zoom:
Nokia 808 PureView là một
trong số các smartphone hiếm hoi hỗ trợ tính năng zoom lossless trong
khi chụp ảnh hay quay phim. Tuy nhiên, thay vì dùng các thấu kính quang
học, camera trên thiết bị thực hiện tính năng zoom in/out bằng cách thu
nhỏ hay mở rộng phần diện tích cảm biến đang được sử dụng. Samsung
Galaxy Camera, mặt khác, sở hữu một hệ thống quang học đầy đủ cung cấp
khả năng zoom 21x lossless tối đa
.
Samsung Galaxy Camera không zoom.
Samsung Galaxy Camera 3x zoom.
Nokia 808 PureView 3x zoom.
Thân thiện người dùng, tốc độ, tính năng và giao diện:
Giao
diện ứng dụng camera của mỗi thiết bị trong bài viết đều có những ưu
điểm riêng biệt. Chẳng hạn như iPhone 5 là một lựa chọn hoàn hảo cho
những người thích chụp nhanh. Người sử dụng có thể bật camera cực kỳ
nhanh gọn ngay từ màn hình khóa. Hơn thế nữa, bạn sẽ không gặp hiện
tượng trễ cửa chập, những menu rối rắm đòi hỏi nhiều thao tác cài đặt và
tinh chỉnh- chỉ cần chĩa camera và chụp. Mặt khác, giao diện này kém
linh hoạt do thiếu sự tùy biến, vì thế không được đánh giá cao bởi những
người chụp nhiều kinh nghiệm.
Giao diện camera iPhone 5 rất đơn giản.
Samsung
Galaxy Note II và Galaxy S III cũng cho phép mở camera gần như lập tức
từ các shortcut trên màn hình khóa, và khoảng trễ cửa chập cũng vô cùng
nhỏ. Những bên cạnh đó, giao diện này cũng cung cấp khá đa dạng các tùy
chỉnh hình ảnh, thậm chí người sử dụng có thể thiết lập shortcut để truy
cập nhanh các tính năng camera hay dùng.
Samsung Galaxy S III và Note II cung cấp khá nhiều điều chỉnh.
Nokia
808 PureView nổi bật với tính năng zoom lossless và nút chụp 2 giai
đoạn. Hơn thế nữa, smartphone phù hợp cho cả những tay chụp nghiệp dư và
chuyên nghiệp. Những người ít kinh nghiệm hơn có thể hài lòng với chế
độ tự động, còn giao diện creative cung cấp rất đa dạng các điều chỉnh
nâng cao đủ để làm vừa ý những người chụp ảnh khó tính.
Giao diện camera Nokia 808 PureView.
Tuy
nhiên, xét về khả năng tùy biến, không smartphone nào có thể sánh ngang
với Samsung Galaxy Camera. Điều này hoàn toàn dể hiểu, đây dù sao vẫn
là một máy ảnh thực thụ. Người sử dụng thậm chí có thể cài đặt cả khẩu
độ và tốc độ chụp nếu cần. Ngoài ra, Galaxy Camera có thể zoom tối đa
21x mà vẫn duy trì được độ ổn định của hình ảnh. Đồng thời, những người
mới tập tành chụp ảnh vẫn có thể dễ dàng sử dụng thiết bị ở chế độ tự
động.
Giao diện Samsung Galaxy Camera.
Kết luận:
Trước
khi thực hiện bài viết này, chúng tôi vẫn cho rằng Samsung Galaxy
Camera sẽ vượt trội trên mọi tiêu chí. Nhưng thực tế lại không phải như
vậy. Mặc dù Galaxy Camera được trang bị một cảm biến độ phân giải cao
cùng một hệ thống quang học hiện đại, hình ảnh chụp từ camera này lại
không hề vượt trội so với những smartphone high-end. Dĩ nhiên, không thể
phủ nhận những ưu điểm của Galaxy Camera như sở hữu hệ thống quang học
hoàn chỉnh và sự linh hoạt nhờ rất nhiều những tùy chỉnh. Ngoài ra,
Samsung Galaxy Camera đã thống trị ở hai hạng mục: chụp nội cảnh và chụp
đêm. Những bức ảnh chụp đêm từ Galaxy Camera phải nói là vượt xa bất kỳ
smartphone nào. Tuy nhiên, ngoài những mặt này, những smartphone cao
cấp với camera chất lượng cao, chẳng hạn như Samsung Galaxy S III,
Galaxy Note II, iPhone 5 hay Nokia 808 PureView đã có màn thể hiện không
hề thua kém Galaxy Camera.
Tham khảo: Phonearena.
Để bắt đầu bài viết này, có lẽ chúng ta phải nhìn nhận một sự thực:
Trên bản đồ thiết bị điện tử toàn cầu, thì cả Bowers & Wilkins
(B&W) đến từ đảo quốc sương mù lẫn Beats Electronics đều là hai tên
tuổi “nổi như cồn” và được đông đảo công chúng lẫn giới mộ điệu biết tới
cũng như chiếm được thị phần đáng kể trên thị trường. Tuy nhiên, chính
do mục tiêu khách hàng khác nhau, mà hầu như người tiêu dùng của thương
hiệu này rất ít quan tâm hoặc thậm chí là không hề biết tới thương hiệu
còn lại.
- Cả hai đều nằm trong phân khúc tai nghe portable nhỏ gọn ở tầm giá 200 USD.
- Việc so sánh sẽ dựa trên cả kết cấu thiết kế lẫn chất lượng âm thanh thông qua những bản nhạc được chọn lựa cẩn thận.
Beats của tập đoàn HTC (nắm giữ đa số cổ phần) tập trung sản xuất
những mẫu tai nghe với dáng vẻ thời trang cũng như gắn liền với tên tuổi
những nghệ sĩ nổi danh trong làng âm nhạc thế giới như Lady Gaga hay
Justin Bieber, từ đó hướng tới thị phần giới trẻ năng động. Trong khi
đó, B&W lại tập trung đội ngũ kỹ sư với kinh nghiệm lên đến cảnh
giới “cáo già” trong làng âm thanh thế giới, để tạo ra những bộ loa
thùng mang chất lượng hoàn hảo như PM, CM hay 600 series. Đến đây ắt hẳn
sẽ có người thắc mắc, vậy chúng ta đang so sánh cái gì? Mới đây, nhà
sản xuất loa Anh Quốc đã bắt đầu “lấn sân” sang thị trường các thiết bị
âm thanh nhỏ gọn với 3 mẫu tai nghe: full size P5, portable P3, và
in-ear C5.
Trang blog công nghệ TechCrunch đã “nhặt” ra 2 sản phẩm có sự tương
đồng về phân khúc cũng như tầm giá của cả 2 nhà sản xuất để tiến hành
so sánh. Đó là hai mẫu portable headphone Beats Solo HD và Bowers &
Wilkins P3. Cả hai đều nằm trong tầm giá dao động trong khoảng 200 USD
(khoảng 4 triệu Đồng). Thông qua 2 tiêu chí: ngoại hình và chất lượng âm
thanh khi nghe nhạc, người thử nghiệm sẽ đưa ra sản phẩm chiến thắng
trong cuộc đối đấu cân sức này.
Thiết kế
Vào năm 2011, B&W chính thức tấn công vào thị trường thiết bị
âm thanh cá nhân với mẫu headphone P5. Mang nhiều nét tương đồng với P5,
mẫu headphone portable P3 sở hữu thiết kế đậm chất cổ điển với earpad
hình chữ nhật được bo tròn góc cạnh, thêm vào đó là bộ khung được chế
tác từ thép không gỉ được uốn tỉ mỉ. Earpad được bọc vải thay vì bọc da
như nhiều mẫu tai nghe cao cấp khác. Chính điều này lại phần nào đem lại
sự thoải mái cũng như vẻ đẹp trong quá trình sử dụng, mặc dù đổi lại là
khả năng cách âm của chiếc tai nghe khá kém. Nói tóm lại, B&W vẫn
trung thành với triết lý thiết kế sau hơn 50 năm có mặt trên bản đồ âm
thanh thế giới: Đơn giản, không rườm rà nhưng vững chãi và đáng tin cậy.
Chuyển sang chiếc tai nghe của rapper Dr. Dre. Nhận xét rõ ràng là
bề ngoài của chiếc tai nghe Solo HD trẻ trung, hiện đại và có vẻ chắc
chắn hơn P3 nhiều. phần cầu nối giữa 2 earcup không quá mỏng manh như
P3. Thêm vào đó, đệm tai bọc da lớn, có khả năng ôm trọn vành tai, từ đó
giúp loại bỏ âm thanh bên ngoài tốt hơn P3 (một chút, sẽ đề cập kỹ hơn ở
phần sau của bài viết) trong quá trình thưởng thức âm nhạc.
Âm nhạc
Rõ ràng là cả B&W lẫn Beats đều không tạo ra 2 mẫu tai nghe này
để hướng tới thị trường audiophiles với nhu cầu cũng như đòi hỏi cao,
mà thay vào đó là những người với nhu cầu tai nghe gọn nhẹ để học so thể
thưởng thức âm nhạc chất lượng cao mọi lúc, mọi nơi.
Mặc dù vậy, thì việc thử nghiệm những chiếc tai nghe này vẫn không
thể nào chỉ dựa vào những dịch vụ streaming với chất lượng nhạc thấp như
Rdio hay Pandora được. Để kiểm tra khả năng của cả P3 lẫn Beats Solo
HD, TechCrunch đã sử dụng các album CD Aquemini (ra mắt năm 1998) của bộ
đôi rapper OutKast, The Resistance của rockband Muse. Cuối cùng, album
đĩa than The Dark Side of The Moon của huyền thoại Pink Floyd cũng được
sử dụng để đưa 2 chiếc headphone lên bàn cân.
Giải thích cho việc sử dụng một album hiphop để… test tai nghe,
TechCrunch giải thích, rằng track thứ 5 của album này, Rosa Parks, sở
hữu một số đoạn có âm vực thấp đến mức chỉ có những mẫu headphone
top-end mới có khả năng trình diễn. Thêm vào đó là âm thanh nói chung
của album này sở hữu dải âm cực trầm, lựa chọn hoàn hảo để thử nghiệm
dải bass của những chiếc tai nghe. Ở phần thử sức mạnh bass, Solo HD có
vẻ nhỉnh hơn đôi chút so với P3, khi âm bass dày và mạnh hơn. Nhược điểm
của Solo HD lại đến từ chính thế mạnh của nó. Âm trầm được thể hiện với
uy lực lớn, đến mức nó “nuốt chửng” cả dải mid. Trong khi đó, mặc dù P3
thất bại trong việc “dồn” những âm bass đầy uy lực vào tai người nghe
như Solo HD, thì tổng quan âm thanh của P3 lại rõ ràng và tinh tế hơn
rất nhiều ở dải mid và high.
Chuyển sang album The Resistance, ra mắt vào năm 2009 của
Alternative band Anh Quốc, Muse. Cả 3 phần (hay nói đúng hơn là 3 track)
trong bản “giao hưởng” Exogenesis: Symphony, mang tên Overture,
Cross-Polination và Redemption đều sở hữu dải âm rộng với nhiều nhạc cụ
từ violin, contrabass đến guitar và cả trống. Thử nghiệm cho thấy cả 2
mẫu tai nghe đều tỏ ra khá yếu ở dải âm cao. Ở đoạn đầu (phút thứ 1:35)
của bản Redemption, khi Matthew Bellamy cất giọng hát, cả 2 chiếc tai
nghe lập tức tỏ ra “chới với”.
Cuối cùng, tượng đài huyền thoại “The Great Gig In The Sky” được
bật lên. Đây mới chính là lúc P3 phát huy hết “nội công” mà nó sở hữu.
Tiếng hát cất lên, dường như người sử dụng bị “chìm” trong dải âm mid và
high được thể hiện quá đỗi rõ ràng và chi tiết. Trong khi đó, chiếc tai
nghe của rapper Dr. Dre đã thất bại hoàn toàn trong việc tái hiện bức
tranh tuyệt vời bằng âm nhạc mà Pink Floyd vẽ nên với “Money” và “The
Great Gig From The Sky”.
Tạm kết
Cuộc “đại chiến” đã kết thúc với phần thắng tạm thời nghiêng về cái
tên đến từ nước Anh. Sở hữu thiết kế bắt mắt, trẻ trung, cộng thêm đó
là khả năng tái tạo âm bass tuyệt vời, nhưng rõ ràng những thứ đó là
không đủ để nó cạnh tranh với chất âm tuyệt vời mà Bowers & Wilkins
P3 mang lại.
Tham khảo TechCrunch
Twitter, Pinterest và Tumblr đã cảnh báo với người dùng rằng một số dữ liệu của họ có thể bị tổn hại sau khi hệ thống an ninh mạng cyar Zendesk một công ty cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khách hàng cho cả ba công ty, bị thâm nhập
“ Chúng tôi đã bị hack” là tiêu đề trên một blog của Zendesk. Hãng cho biết có một hacker đã thâm nhập vào hệ thồng của họ và tải thông tin của người dùng từ các mạng xã hội Twitter, Tumblr và Pinterest, bao gồm thông tin liên lạc mà bạn cung cấp khi nộp một yêu cầu hỗ trợ như email, số điện thoại, hoặc tên người sử dụng.
“ Chúng tôi đã bị hack” là tiêu đề trên một blog của Zendesk. Hãng cho biết có một hacker đã thâm nhập vào hệ thồng của họ và tải thông tin của người dùng từ các mạng xã hội Twitter, Tumblr và Pinterest, bao gồm thông tin liên lạc mà bạn cung cấp khi nộp một yêu cầu hỗ trợ như email, số điện thoại, hoặc tên người sử dụng.
Tuần vừa qua, ngay khi bên phía Zendesk biết được hacker này đã truy nhập
vào hệ thống của họ, công ty đã vá lỗ hổng và đóng cổng truy cập mà các hacker
có. Theo như điều tra thì các hacker đã lấy được quyền truy nhập vào thông tin
hỗ trợ ở cả ba hệ thống mạng. Và nguy cơ rất cao là địa chỉ email mà người sử dụng dùng để yêu cầu hỗ trợ bị đánh cắp.
Ngay lập tức công ty thông báo với các khách hàng này và hỗ trợ họ khắc phục.
Phản ứng ngay tức thì, cả ba công ty Twitter, Tumblr và Pinterest đã nhanh chóng đưa ra các thông báo cho người sử dụng
và giải thích bản chất của sự vi phạm để đảm bảo giúp người dùng ít chịu ảnh hưởng
nhất từ vụ việc trên.
Người
ta vẫn tin rằng không thể xâm nhập vào mật khẩu trên bất kì dịch vụ của
bên thứ ba nào trên các mạng xã hội. Tuy nhiên, hãy luôn cảnh giác.
Người dùng nên sử dụng mật khẩu mạnh, sử dụng mật khẩu khác nhau, tài
khoản khác nhau cho những dịch vụ và mạng khác nhau. Và một điều cần lưu
ý nữa là không bao giờ tiết lộ mật khẩu của mình.
Tham khảo : Mashable












