SSTN đã có giới thiệu bài so sánh 2 kho ứng dụng Google Play và Apple App Store, trong khi đó Windows Phone (WP) Marketplace lại đang tăng trưởng. Vậy đâu là sự khác biệt giữa Google Play và Windows Phone Marketplace?
Đối với WP, dường như hiện tượng phân mảnh trong nâng cấp HĐH cũng diễn ra tương tự khi có tin đồn cho rằng Windows Phone 8 (WP 8) chỉ được ra mắt vào cuối năm nay và không phải tất cả các thiết bị WP đều được nâng cấp lên WP 8.
Trong khi đó, báo cáo danh sách ứng dụng WP cho biết hiện tại trên kho ứng dụng của Microsoft có 80.000 ứng dụng, đây là một số lượng lớn khi mà kho ứng dụng này mới chỉ được phát triển trong 2 năm qua.
Cả Microsoft và Google đều cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây SkyDrive của Microsoft với 7 GB dung lượng miễn phí để lưu trữ những dữ liệu quan trọng đến từ tất cả các thiết bị như Windows, Mac, WP hay thậm chí là cả iPhone hay iPad.
Thay vì chỉ lưu trữ dữ liệu online, dịch vụ của Google tiến bộ hơn so với SkyDrive ở chỗ khi người dùng ghé thăm Google Play, họ có thể đồng thời xem xét cả kho âm nhạc, sách, ứng dụng, phim... của mình nếu thiết bị của họ có kết nối Internet.
Google Play sở hữu công cụ quản lí dựa trên nền tảng đám mây, giúp người dùng có thể quản lí các ứng dụng của mình giống như iTunes của Apple hoặc Chrome Web Store.
1. Số người tham gia thiết kế ứng dụng
Thực sự rất khó để kết luận liệu số người tham gia thiết kế ứng dụng cho Google Play hay WP Marketplace bên nào nhiều hơn.
2. Phí thành viên
Trước khi người dùng được phép thiết kế và đưa các ứng dụng lên các chợ ứng dụng này, họ đều phải trả một khoản phí trước cho nhà phát triển. Đối với WP Marketplace, mức phí mà những người tham gia phát triển ứng dụng phải trả là 99 USD/năm, và nếu những người này muốn phát triển 100 ứng dụng miễn phí trên WP Marketplace, họ cũng phải trả 19,99 USD cho mỗi ứng dụng. Trong khi đó, Google Play chỉ yêu cầu một mức phí là 25 USD và mức phí này cũng chỉ là để chống lại hiện tượng spam trên kho ứng dụng. Ngoài ra, Google Play cũng không đòi hỏi thêm bất kì mức phí nào khác.3. SDK và ngôn ngữ lập trình
SDK của WP là tổ hợp của các ngôn ngữ lập trình Visual Studio 2010 Express, XNA Game Studio,... Ngoài bộ lập trình SDK, Microsoft cũng cung cấp những công cụ quen thuộc của hãng tới những người lập trình như NET Framework, C++ hay Visual Basic. SDK Android có thể sử dụng các ngôn ngữ lập trình Java, C và C++. Bộ phát triển ứng dụng của Android tương thích với các HĐH Windows, Mac và cả Linux, không giống với Microsoft, bộ SDK của hãng chỉ sử dụng cho Windows mà thôi.4. Tải ứng dụng và sự phân mảnh trong nâng cấp HĐH
Điểm khó chịu lớn nhất mà các nhà phát triển ứng dụng cho Android phải chịu đó chính là có sự phân mảnh rất lớn giữa các nền tảng Android. Rất khó để các nhà phát triển ứng dụng có thể phát triển một ứng dụng phù hợp với tất cả các phiên bản của HĐH Android. Về số lượng download, theo Android.com có hơn 2,4 triệu lượt tải ứng dụng chỉ riêng trong Q3/2011. Hơn nữa, Google cũng thay đổi tên từ Android Market thành Google Play với số lượng ứng dụng phong phú, bao gồm sách, phim, nhạc, game... trải rộng tới hơn 130 quốc gia.Đối với WP, dường như hiện tượng phân mảnh trong nâng cấp HĐH cũng diễn ra tương tự khi có tin đồn cho rằng Windows Phone 8 (WP 8) chỉ được ra mắt vào cuối năm nay và không phải tất cả các thiết bị WP đều được nâng cấp lên WP 8.
5. Số lượng ứng dụng
Theo thống kê của AppBrain, số lượng các ứng dụng có mặt trên Google Play là 430.000 ứng dụng, trong đó có tới 311.000 ứng dụng được cung cấp hoàn toàn miễn phí (chiếm 72%).Trong khi đó, báo cáo danh sách ứng dụng WP cho biết hiện tại trên kho ứng dụng của Microsoft có 80.000 ứng dụng, đây là một số lượng lớn khi mà kho ứng dụng này mới chỉ được phát triển trong 2 năm qua.
6. Lưu trữ đám mây
Cả Microsoft và Google đều cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây SkyDrive của Microsoft với 7 GB dung lượng miễn phí để lưu trữ những dữ liệu quan trọng đến từ tất cả các thiết bị như Windows, Mac, WP hay thậm chí là cả iPhone hay iPad.
Thay vì chỉ lưu trữ dữ liệu online, dịch vụ của Google tiến bộ hơn so với SkyDrive ở chỗ khi người dùng ghé thăm Google Play, họ có thể đồng thời xem xét cả kho âm nhạc, sách, ứng dụng, phim... của mình nếu thiết bị của họ có kết nối Internet.
7. Quản lí nội dung
Ngay từ đầu, Microsoft đã xác định sẽ đi vào thiết kế các chương trình và ứng dụng cho mục đích thương mại. Trước khi có WP, Microsoft đã từng làm việc trên nền tảng Zune rất lâu, chính vì thế mà phần mềm Zune được sử dụng cho cả WP, thực hiện chức năng quản lí tài nguyên trên PC, kết nối PC và điện thoại đồng thời còn có chức năng cài đặt các phiên bản cập nhật cho các phần mềm có trong thiết bị của người dùng.Google Play sở hữu công cụ quản lí dựa trên nền tảng đám mây, giúp người dùng có thể quản lí các ứng dụng của mình giống như iTunes của Apple hoặc Chrome Web Store.
Như vậy, có thể thấy rằng giữa 2 chợ ứng dụng này có khá nhiều điểm tương đồng với nhau. Do ra đời trước khá lâu nên Google Play dường như đang nắm giữ lợi thế lớn hơn về số lượng ứng dụng. Mặt khác, Microsoft cũng có lợi thế của riêng mình với trình quản lí Zune và giao diện quen thuộc với phần lớn người dùng công nghệ. Hiện tại, Android đang thu hút nhiều nhà phát triển ứng dụng hơn, nhưng trong tương lai, chưa chắc Microsoft đã kém cạnh bởi hãng đang trong tiến trình thực hiện kế hoạch trả "lương" cho những người đóng góp ứng dụng cho WP Marketplace. Có thể thấy, giữa Google Play và WP Marketplace vẫn còn phải một thời gian dài nữa mới có thể xác định được ai là người thắng cuộc.
Theo Android Authority
Dù có thiết kế bắt mắt, camera xịn, màn hình cảm ứng mượt... đi chăng nữa thì chiếc smartphone vẫn có thể không đạt được thành công nếu nhà sản xuất không phát triển một hệ thống ứng dụng phong phú và đa dạng.
Đó là một phần lí do các smartphone của Apple (chạy hệ điều hành iOS với kho ứng dụng App Store) và Samsung (chạy hệ điều hành Android với Google Play) luôn dẫn đầu doanh số của thị trường. Vậy giữa Google Play và Apple App Store có những điều gì thú vị?
Với Google, hãng này cung cấp bộ công cụ phát triển phần mềm (SDK) miễn phí. Phần lớn các ứng dụng trên Android đều được lập trình bằng Java, nhưng C, C++ cũng vẫn được phép sử dụng.
Hơn nữa, theo GigaOm, 45% người dùng iPhone và iPod touch mua ít nhất 1 ứng dụng trên App Store mỗi tháng. Trong khi đó, chỉ có 19% người dùng Android tải một ứng dụng trả phí mỗi tháng.
Số lượng ứng dụng iOS mỗi người dùng tải về luôn gấp đôi số lượng ứng dụng Android.
Trong khi đó, 148apps tính toán được có tới 625.000 ứng dụng trên App Store, mức giá trung bình cho mỗi ứng dụng là 2,02 USD và chỉ có 287.000 (chiếm 46%) tổng số ứng dụng trên App Store được cung cấp miễn phí.
Dịch vụ của Google tiến bộ hơn so với iCloud ở chỗ khi người dùng ghé thăm Google Play, họ có thể đồng thời xem xét cả kho âm nhạc, sách, ứng dụng, phim... của mình nếu thiết bị của họ có kết nối Internet.
Cùng với việc thay đổi cái tên Android Market thành Google Play, Google cũng giới thiệu công cụ quản trị đám mây có chức năng tương tự iTunes của Apple.
Đó là một phần lí do các smartphone của Apple (chạy hệ điều hành iOS với kho ứng dụng App Store) và Samsung (chạy hệ điều hành Android với Google Play) luôn dẫn đầu doanh số của thị trường. Vậy giữa Google Play và Apple App Store có những điều gì thú vị?
1. Số người tham gia thiết kế ứng dụng
Mặc dù các điện thoại chạy HĐH Android chiếm hơn 50% thị phần smartphone hiện nay, nhưng số người tham gia phát triển ứng dụng trên Google Play lại ít hơn App Store 4 lần. Lí do rất đơn giản: hệ sinh thái iOS và App Store đã phát triển trước rất lâu.
2. Phí thành viên
Cả Google Play và Apple App đều đòi hỏi người dùng phải trả một khoản phí nhất định mới có thể đăng tải ứng dụng mới. Tuy nhiên, nếu một nhà phát triển phần mềm muốn sản phẩm của mình lên App Store, anh ta sẽ phải trả cho Apple 99 USD trong khi với Google Play là 25 USD. Google lo rằng nếu không có khoản phí này, Google Play sẽ đầy những ứng dụng "rác".3. SDK và ngôn ngữ lập trình
Apple cung cấp bộ phát triển Xcode cho những người muốn phát triển ứng dụng trên Mac, iPad và iPhone. Nhà phát triển có thể sử dụng Objective-C, C++, C hay JavaScript (trên WebKit) để xây dựng ứng dụng.Với Google, hãng này cung cấp bộ công cụ phát triển phần mềm (SDK) miễn phí. Phần lớn các ứng dụng trên Android đều được lập trình bằng Java, nhưng C, C++ cũng vẫn được phép sử dụng.
4. Tải ứng dụng và sự phân mảnh trong nâng cấp HĐH
Điều gây thất vọng nhất cho những người phát triển ứng dụng trên Android đó là nhiều thiết bị chạy HĐH này không được cập nhật bản mới nhất là ICS. Số lượng điện thoại chạy ICS vẫn không vượt quá 3% tổng số các thiết bị Android. Nhưng ở các thiết bị iOS lại hoàn toàn không có sự phân mảnh như vậy, tốc độ cập nhật HĐH rất nhanh và đồng đều, số lượng máy được cập nhật lớn.Hơn nữa, theo GigaOm, 45% người dùng iPhone và iPod touch mua ít nhất 1 ứng dụng trên App Store mỗi tháng. Trong khi đó, chỉ có 19% người dùng Android tải một ứng dụng trả phí mỗi tháng.
Số lượng ứng dụng iOS mỗi người dùng tải về luôn gấp đôi số lượng ứng dụng Android.
5. Số lượng ứng dụng
AppBrain - trang web cung cấp các ứng dụng Android tốt nhất thống kê rằng hiện Google Play đang sở hữu 430.000 ứng dụng tại thời điểm này, trong đó 311.000 (72%) ứng dụng miễn phí.Trong khi đó, 148apps tính toán được có tới 625.000 ứng dụng trên App Store, mức giá trung bình cho mỗi ứng dụng là 2,02 USD và chỉ có 287.000 (chiếm 46%) tổng số ứng dụng trên App Store được cung cấp miễn phí.
6. Lưu trữ đám mây
Nếu bạn sở hữu các thiết bị đa phương tiện, đồng bộ hóa tất cả các ứng dụng, bài hát hay sách có thể là một công việc rất tẻ nhạt. Đó chính là lí do vì sao cả Apple và Google đều cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây. iCloud của Apple có nhiệm vụ lưu trữ tất cả những ứng dụng mà người dùng đã mua và tự động đồng bộ cho iPhone hay iPad.Dịch vụ của Google tiến bộ hơn so với iCloud ở chỗ khi người dùng ghé thăm Google Play, họ có thể đồng thời xem xét cả kho âm nhạc, sách, ứng dụng, phim... của mình nếu thiết bị của họ có kết nối Internet.
7. Quản trị nội dung
Nhắc tới iOS là phải nhắc tới iTunes. Đây vốn đã là phần mềm không thể thiếu đối với các "iFan" khi họ muốn nghe, tải nhạc hoặc phim về máy, lập danh sách bài hát...Cùng với việc thay đổi cái tên Android Market thành Google Play, Google cũng giới thiệu công cụ quản trị đám mây có chức năng tương tự iTunes của Apple.
Như vậy, bạn có thể thấy giữa hai kho ứng dụng này không có nhiều sự khác biệt nhưng App Store dường như vẫn có nhiều lợi thế hơn với số lượng các nhà phát triển ứng dụng hùng hậu hơn. Nhưng đối với Google, đi sau chưa hẳn là một cái hại bởi với sự chọn lọc và phát triển có định hướng. Trong tương lai, Google Play chưa chắc đã thua kém App Store.
Theo TTCN
Cũng giống như nhiều trang web khác, mạng xã hội lớn nhất thế giới cũng vừa thay đổi giao diện cũ sang giao diện Timeline mới. Ngoài mục đích đổi mới, cải tiến để làm hài lòng người sử dụng, Facebook còn có mục đích nào khác?
Hãng EyeTrackShop đã tiến hành nghiên cứu sự thay đổi trong cách người sử dụng tiếp cận các hình ảnh trên các giao diện mới của Facebook, Twitter và MySpace sau khi các mạng xã hội này thay đổi giao diện mới. Bằng cách ghi lại các chuyển động về mắt và điểm ảnh được người sử dụng chú ý nhất trên cả giao diện cũ và mới, EyeTrackShop đã thu được những kết quả thú vị sau:
Ảnh lớn (cover) của giao diện Timeline được người sử dụng Facebook chú ý đầu tiên, tuy nhiên họ lại dành nhiều thời gian hơn để nhìn vào ảnh nhỏ hồ sơ cá nhân (profile) hơn là bức ảnh lớn.
Các quảng cáo được người sử dụng chú ý hơn trên giao diện Timeline so với giao diện cũ. Trong khi chỉ có 43% số lượng người tham gia nghiên cứu chú ý đến các quảng cáo trên Facebook trên giao diện cũ, thì với giao diện Timeline mới, con số này đã tăng lên đến 63%. Thời gian trung bình mà người sử dụng để ý đến các quảng cáo trên trang mạng xã hội trong cả 2 giao diện là khá tương đồng.
Các thông tin cá nhân như nghề nghiệp, địa điểm sinh sống…được chú ý hơn trong giao diện Timeline. Người sử dụng thường bỏ ra trung bình 2,2 giây để nhìn vào những nội dung có chứa hình ảnh này trong giao diện Timeline so với chỉ 1,6 giây trong giao diện cũ.
Trong khi đó, nghiên cứu trên cũng cho thấy các bức ảnh trên MySpace được người sử dụng chú ý và dành nhiều thời gian theo dõi nhất trên cả 2 giao diện cũ và mới. Các đoạn chữ, văn bản không thu hút được sự chú ý của người sử dụng.
Giao diện mới của MySpace khiến phần âm nhạc trở nên nổi bật hơn. Có đến 97% người sử dụng chú ý đến việc có thể click chuột để chạy một bài hát trên giao diện mới, trong khi đó con số này trên giao diện cũ chỉ có 53%.
Với mạng xã hội Twitter, các thông tin về hồ sơ cá nhân được dễ dàng chú ý đến hơn trên giao diện mới. Nghiên cứu cho thấy người sử dụng thường chú ý đến các dòng tweet trước khi họ để mắt tới thông tin cá nhân trong giao diện cũ, còn với giao diện mới, điều này được đảo ngược hoàn toàn.
Dưới đây là một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu mà EyeTrackShop thu được:
Facebook
Giao diện cũ và giao diện Timeline mới của Facebook.
Mức độ chú ý bằng mắt của người sử dụng thể hiện, màu đỏ cho thấy sự tập trung nhiều hơn.
Những điểm sáng màu chính là vị trí được người sử dụng chú ý nhiều nhất trên các giao diện.
Vị trí, bố cục các mục chính được thay đổi.
Thời gian người sử dụng bỏ ra để nhìn vào mỗi vị trí của các mục.
Cách thức người sử dụng theo dõi trên giao diện Timeline.
Cách thức người sử dụng Facebook theo dõi giao diện cũ.
MySpace
Hình ảnh giao diện cũ và mới của MySpace.
Vị trí các điểm được chú ý trên các giao diện.
Vị trí, bố cục các mục chính.
Thời gian người sử dụng chú ý đến các mục.
Chỉ số dữ liệu trên giao diện mới.
Chỉ số dữ liệu trên giao diện cũ.
Twitter
Hình ảnh giao diện cũ và mới của mạng xã hội Twitter.
Chỉ số dữ liệu thu được trên giao diện cũ.
Chỉ số dữ liệu trên giao diện mới.
Tham khảo: Mashable









